Theo khoản 3 Điều 43 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng khi mua hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài, cá nhân không cư trú trên nền tảng thương mại điện tử có trách nhiệm khấu trừ, nộp thay số thuế giá trị gia tăng phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài, cá nhân không cư trú đối với việc cung cấp dịch vụ, số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài và số thuế thu nhập cá nhân phải nộp của cá nhân không cư trú. Thời điểm thực hiện khấu trừ là thời điểm thanh toán cho nhà cung cấp nước ngoài, cá nhân không cư trú (điểm a khoản 1 Điều 44 Nghị định 252/2026/NĐ-CP).
Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Theo điểm a khoản 3 Điều 12 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, tổ chức, cá nhân thuộc trường hợp khấu trừ, nộp thay số thuế đã khấu trừ theo quy định của pháp luật về thuế phải thực hiện khấu trừ thuế của người nộp thuế và khai, nộp số thuế đã khấu trừ. Vì vậy, các khoản thanh toán cho nhà cung cấp nước ngoài, cá nhân không cư trú trên nền tảng thương mại điện tử là phần nên được đối chiếu với quy định này.
Về cách khai, khoản 3 Điều 45 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định tổ chức kinh doanh tại Việt Nam thực hiện khai số thuế đã khấu trừ theo từng lần phát sinh; trường hợp phát sinh nhiều lần trong tháng thì được khai theo tháng. Thời hạn nộp hồ sơ khai và nộp số thuế đã khấu trừ thực hiện theo Điều 10 Nghị định này; theo khoản 1 và khoản 2 Điều 10, khai theo từng lần phát sinh chậm nhất là ngày thứ 10 kể từ ngày tiếp theo ngày phát sinh nghĩa vụ thuế, khai theo tháng chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế. Hồ sơ kê khai số thuế đã khấu trừ thực hiện theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Tài chính (khoản 5 Điều 45).
Về mã số thuế, khoản 4 Điều 11 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 quy định mã số thuế của tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khấu trừ, nộp thay số thuế đã khấu trừ của người nộp thuế khác thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Trường hợp đăng ký thuế để cấp mã số thuế nộp thay, điểm c khoản 3 Điều 6 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định thời hạn chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng, văn bản hợp tác kinh doanh, hoặc chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày thanh toán hoặc chi trả thu nhập lần đầu cho tổ chức, cá nhân trong trường hợp không ký hợp đồng; nếu không thuộc hai trường hợp này thì cùng với thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế đầu tiên.
Để tránh một giao dịch bị khấu trừ hai lần, khoản 4 Điều 43 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định trường hợp tổ chức kinh doanh tại Việt Nam đã khấu trừ, nộp thay đối với giao dịch phát sinh trên nền tảng thương mại điện tử có chức năng thanh toán và chức năng đặt hàng trực tuyến thì thông báo bằng phương thức điện tử cho chủ quản nền tảng để không thực hiện khấu trừ thuế đối với cùng giao dịch đó. Thông báo gồm mã số thuế của tổ chức đã khấu trừ, mã giao dịch hoặc mã đơn hàng, giá trị giao dịch, số thuế đã khấu trừ, nộp thay và thông tin của tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ; tổ chức kinh doanh tại Việt Nam và chủ quản nền tảng có trách nhiệm lưu giữ thông tin, chứng từ liên quan và cung cấp cho cơ quan quản lý thuế khi có yêu cầu.
Một cách rà soát đơn giản là đặt từng khoản thanh toán cho nhà cung cấp nước ngoài vào ba câu hỏi: giao dịch có phát sinh trên nền tảng thương mại điện tử hay không, bên mua có đang áp dụng phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng hay không, và nếu bên mua đã khấu trừ, nộp thay đối với giao dịch trên nền tảng có chức năng thanh toán và chức năng đặt hàng trực tuyến thì đã thông báo cho chủ quản nền tảng theo khoản 4 Điều 43 hay chưa. Câu trả lời cụ thể cho từng giao dịch phụ thuộc vào hồ sơ thực tế và văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Nội dung thông tin mang tính tham khảo; thực hiện theo quy định pháp luật.
Nội dung thể hiện góc nhìn của tác giả, mang tính tham khảo; không cấu thành tư vấn pháp lý, thuế hay đầu tư. Tình huống cụ thể cần được xem xét trên số liệu thực tế.