Điểm i khoản 1 Điều 8 Thông tư 91/2026/TT-BTC nêu một trường hợp cụ thể: hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đã được cấp mã số thuế trước ngày 01/7/2025 nhưng thông tin đăng ký thuế không khớp đúng với thông tin của cá nhân được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc không đầy đủ. Khi đó cơ quan thuế yêu cầu bổ sung thông tin trong thời hạn 10 ngày làm việc; sau thời hạn này, nếu chưa thực hiện, cơ quan thuế thực hiện tạm ngừng sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Phạm vi của quy định này không phải mọi hộ kinh doanh có mã số thuế cũ. Theo câu chữ của văn bản, quy định gắn với đồng thời ba yếu tố: mã số thuế được cấp trước ngày 01/7/2025, thông tin đăng ký thuế không khớp hoặc không đầy đủ so với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, và có yêu cầu bổ sung thông tin của cơ quan thuế. Biện pháp nêu trong văn bản là tạm ngừng sử dụng hóa đơn điện tử, nên nội dung này liên quan trực tiếp đến hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đang sử dụng hóa đơn điện tử; văn bản không nêu riêng điều kiện về việc đang sử dụng hóa đơn.
Về mốc tính thời hạn, điểm i chỉ ghi “trong thời hạn 10 ngày làm việc” và không nêu rõ thời hạn tính từ ngày cơ quan thuế gửi hay ngày người nộp thuế nhận yêu cầu. Điểm a khoản 2 cùng Điều quy định Hệ thống thông tin quản lý thuế “ngừng tiếp nhận hóa đơn điện tử và không gửi thông báo ngừng sử dụng hóa đơn điện tử” đối với trường hợp tại điểm i kể từ ngày hết thời hạn hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bổ sung thông tin theo yêu cầu của cơ quan thuế. Vì vậy, việc theo dõi yêu cầu bổ sung thông tin của cơ quan thuế và thời hạn nêu trong yêu cầu có thể giúp chủ động hơn.
Về việc sử dụng lại hóa đơn, khoản 3 Điều 8 quy định: “Tổ chức kinh tế, tổ chức khác, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tại khoản 1 Điều này được tiếp tục sử dụng hóa đơn điện tử sau khi thông báo với cơ quan thuế về việc tiếp tục kinh doanh hoặc được cơ quan thuế khôi phục mã số thuế hoặc cơ quan thuế ban hành quyết định về việc chấm dứt hiệu lực quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn hoặc qua kiểm tra cơ quan thuế xác định người nộp thuế không còn thuộc diện rủi ro cao hoặc khi có thông báo của cơ quan chức năng.” Khoản này không nêu riêng trường hợp đã bổ sung thông tin theo điểm i; người nộp thuế thực hiện theo thông báo, hướng dẫn của cơ quan thuế quản lý trực tiếp.
Cùng khoản 1 Điều 8, điểm h nêu trường hợp tổ chức kinh tế, tổ chức khác, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đang áp dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có thay đổi ngành nghề kinh doanh dẫn đến không đáp ứng điều kiện tại điểm c khoản 1 Điều 6 Nghị định 254/2026/NĐ-CP thì cơ quan thuế ra thông báo người nộp thuế ngừng sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền.
Nghị định 254/2026/NĐ-CP và Thông tư 91/2026/TT-BTC cùng có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026; kể từ ngày này, Nghị định 123/2020/NĐ-CP hết hiệu lực thi hành theo khoản 2 Điều 43 Nghị định 254/2026/NĐ-CP.
Văn bản liên quan
Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15. Nghị định 254/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử (Điều 6, Điều 43). Thông tư 91/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 của Bộ Tài chính (Điều 8, Điều 25).
Nội dung thông tin mang tính tham khảo; thực hiện theo quy định pháp luật.
Nội dung thể hiện góc nhìn của tác giả, mang tính tham khảo; không cấu thành tư vấn pháp lý, thuế hay đầu tư. Tình huống cụ thể cần được xem xét trên số liệu thực tế.